CÓ QUAN HỆ HỌ HÀNG TRONG PHẠM VI QUAN HỆ 4 ĐỜI THÌ CÓ ĐƯỢC KẾT HÔN KHÔNG?

Họ hàng nội ngoại cách nhau mấy đời được phép kết hôn? Quy định về điều kiện kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trong một xã hội dân chủ người ta được tự do yêu đương, được tự do theo đuổi hạnh phúc của mình. Tuy nhiên có một số quan hệ được pháp luật điều chỉnh mà mỗi công dân cần phải tuân thủ sự điều chỉnh đỏ, trong đó có quan hệ hôn nhân gia đình, cụ thể hơn là việc có được kết hôn trong phạm vi họ hàng, và họ hàng trong phạm vi bao nhiêu đời thì mới được phép kết hôn. Luật cho phép bạn được phép tự do yêu đương, tự do tìm kiếm tình yêu, nhưng vẫn cần tuân thủ quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, và không được phạm vào những điều mà luật cấm, đó không chỉ là về quan hệ pháp luật mà còn liên quan đến cả phong tục tập quán và cả những quan hệ thuộc về đạo đức xã hội hiện diện trên đất nước ta. Vậy để trả lời cho câu hỏi liệu việc kết hôn trong phạm vi họ hàng vì có trái với quy định pháp luật không và họ hàng cách nhau mấy đời thì mới được kết hôn, Luật Nhân Hòa xin gửi đến bạn bài viết để làm rõ hơn vấn đề này như sau:

Thứ nhất, là họ hàng thì có được phép kết hôn không?

Để bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình của Việt Nam, pháp luật quy định những trường hợp cấm kết hôn tại Điều 8 Luật hôn nhân gia đình 2014 như sau:

– Cấm kết hôn giả tạo, tức là kết hôn không phải vì để xây dựng hạnh phúc gia đình mà nhắm vào những mục đích khác chẳng hạn như là để xuất nhập cảnh, nhập quốc tịch…

– Cấm hành vi cản trở hoặc cưỡng ép, lừa dối người khác thực hiện kết hôn hoặc ly hôn.

– Cấm kết hôn khi chưa đủ độ tuổi mà pháp luật quy định (tảo hôn).

– Cấm chung sống như vợ chồng với người đang có vợ hoặc chồng, hoặc  người đang có vợ hoặc chồng mà sống chung như vợ chồng với người khác.

– Cấm kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có quan hệ họ hàng trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

– Cấm yêu sách, đòi hỏi về của cải một cách vô lý trong việc kết hôn, chẳng hạn như thách cưới, hoặc yêu cầu của hồi môn quá cao.

– Cấm thực hiện việc mang thai hộ, sử dụng kỹ thuật sinh sản vì mục đích thương mại, cấm lựa chọn giới tính của thai nhi, sinh con bằng hình thức sinh sản vô tính.

– Cấm mọi hành vi bạo lực gia đình, kể cả bạo lực thể chất hay bạo lực tinh thần.

– Cấm lợi dụng việc kết hôn để mua bán người, xâm phạm tình dục, bóc lột sức lao động hoặc vì hành vi trục lợi khác.

Như vậy việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người có cùng dòng máu trực hệ có quan hệ họ hàng trong phạm vi ba đời là điều mà luật không cho phép. Đặt trường hợp ngược lại là có quan hệ họ hàng nhưng ở ngoài phạm vi 3 đời này thì vẫn được phép kết hôn.

Việc luật cấm kết hôn khi có họ hàng trong phạm vi ba đời có thể có nhiều nguyên do, trong đó có thể kể đến một vài lý do tiêu biểu như sau:

– Về mặt sinh học, di truyền: việc kết hôn trong phạm vi ba đời sẽ ảnh hưởng rất xấu đến thế hệ sau, do việc kết hôn trong phạm vi ba đời về mặt sinh học sẽ khiến tỷ lệ gen đồng hợp tăng, dị hợp giảm, điều này khiến các gen lặn có hại có điều kiện để biểu hiện ra ngoài thành biểu hiện như là cơ thể bị dị tật, sức đề kháng yếu, tỷ lệ tử vong cao, ngoài ra còn khiến cho tỷ lệ các bệnh di truyền như mắc các bệnh di truyền như bệnh Đao, mù màu, bạch tạng, bại não, đặc biệt là bệnh tan máu bẩm sinh nguy hiểm có tỷ lệ xuất hiện cao hơn, điều này có thể là nguyên nhân trực tiếp gây thoái hóa giống nòi dân tộc.

– Về mặt truyền thống, văn hóa: kết hôn khi trong quan hệ họ hàng gần (phạm vi ba đời) sẽ ảnh hưởng xấu tới truyền thống văn hóa dân tộc, do việc kết hôn trong họ hàng có thể nói là mang tính chất loạn luân, ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục.

Con số ba đời là một phạm vi đã được tính toán để đảm bảo được tính toán để đảm bảo phù hợp về mặt di truyền, để bảo vệ giống nòi và thế hệ sau, cũng là khoảng thế hệ để đảm bảo không ảnh hưởng đến văn hóa của đất nước.

Thứ hai, như nào là phạm vi họ hàng ba đời trong quan hệ hôn nhân gia đình.

Như đã biết, họ hàng có phạm vi ngoài phạm vi ba đời thì luật không cấm kết hôn, vậy như thế nào là như thế nào? Về cơ bản, họ hàng trong phạm vi ba đời sẽ được hiểu như sau: Coi bạn và các anh, chị, em ruột của bạn là đời thứ nhất; vậy các con của bạn và con của các anh, chị, em ruột của bạn sinh ra sẽ là đời thứ hai; các cháu ruột của bạn và các cháu họ do con của bạn và con của các anh, chị, em ruột của bạn sẽ là đời thứ ba; các thế hệ tiếp theo sẽ là đời thứ tư, thứ năm, thứ sáu,…

Luật chỉ cấm kết hôn trong phạm vi ba đời, như vậy từ đời thứ tư trở đi kết hôn thì sẽ không coi là vi phạm pháp luật. Ví dụ: A và B quen nhau nhưng khi cả hai cùng nhau về ra mắt hai bên gia đình thì lại phát hiện ra ông ngoại của A và bà nội của B lại là anh em ruột. A và B băn khoăn không biết liệu việc tiến tới hôn nhân có bị coi là vi phạm pháp luật không. Vậy trong mối quan hệ của A và B, coi ông cố đẻ ra ông ngoại của A và bà nội của B là đời thứ nhất; như vậy ông ngoại của A và bà nội của B là đời thứ hai; mẹ của A và bố của B là họ hàng đời thứ ba; A và B là đời thứ tư. Căn cứ theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, nếu A và B có kết hôn thì cũng không thể coi là vi phạm pháp luật.

Thứ ba, về điều kiện kết hôn hợp pháp.

Ngoài không vi phạm những điều cấm của luật thì một cuộc hôn nhân chỉ được coi là hợp pháp khi hai bên nam, nữ đáp ứng được những điều kiện sau đây:

– Về độ tuổi: Luật hôn nhân và gia đình quy định về độ tuổi kết hôn hợp pháp đối với nam là từ đủ 20 tuổi và với nữ là từ đủ 18 tuổi, đây là độ tuổi mà nam và nữ đã có thể trang bị đủ cho mình những kiến thức tối thiểu về việc kết hôn cũng như là đã đến tuổi vị thành niên và có thể tự chịu trách nhiệm đối với mỗi quyết định của cuộc đời mình.

– Về mặt ý chí: Nam nữ phải hoàn toàn tự nguyện khi tiến tới hôn nhân, do mục đích của hôn nhân là để chung sống xây dựng hạnh phúc gia đình như vậy nếu nam nữ không tự nguyện đến với nhau thì mục đích của hôn nhân liệu còn có thể đạt được. Do vậy ý chí tự nguyện tiến tới hôn nhân của cả hai bên là một điều kiện bắt buộc phải có.

– Về mặt năng lực hành vi dân sự: Khi kết hôn hai bên nam nữ đều phải có đầy đủ năng lực hành vi dân dự. Điều này được quy định như là để đảm bảo hai người kết hôn đều xác định được ý chí của mình hoàn toàn tự nguyện và cũng là để họ có thể tự chịu trách nhiệm với hành vi của mình khi kết hôn. Do hôn nhân và quan hệ vợ chồng, quan hệ gia đình là thuộc về vấn đề nhân thân do vậy chỉ có những người trong cuộc mới có thể tự đưa ra quyết định của mình, chính vì vậy khi đăng ký kết hôn cả hai người đều phải đầy đủ năng lực hành vi dân sự.

Như vậy khi kết hôn, nếu không vi phạm vào điều cấm mà luật quy định và đạt được những điều kiện kết hôn trên thì cuộc hôn nhân này mới được coi là kết hôn hợp pháp.

Trên đây là một số chia sẻ của Luật sư, mọi yêu cầu hỗ trợ quý vị hãy liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật 0915.27.05.27 của chúng tôi. Công ty luật Nhân Hòa chuyên dịch vụ luật sư uy tín, tin cậy đảm bảo giải quyết mọi vướng mắc bạn gặp phải.

Công ty Luật Nhân Hòa

Địa chỉ: 02 Hiệp Bình, phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức, Tp.HCM

Email: luatsunhanhoa@gmail.com

Hotline: 0915. 27.05.27                                            

Trân trọng!

 

 


Bài viết xem thêm